Từ vỏ trấu, bã mía, nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp từng bị xem là rác thải đang được doanh nghiệp Việt tái chế thành sản phẩm xanh để xuất khẩu ra thế giới.
Cơ hội lớn
Những đống vỏ trấu hay bã mía không còn là phế phẩm bị bỏ đi sau thu hoạch mà trở thành nguyên liệu đầu vào cho hạt nhựa sinh học – loại vật liệu có thể phân hủy hoàn toàn, thay thế nhựa truyền thống trong nhiều sản phẩm dùng một lần.

Ông Đoàn Văn Tùng – Tổng Giám đốc của Công ty Cổ phần Công nghệ Phát triển iGreen – đơn vị chuyên sản xuất hạt nhựa sinh học và bao bì phân hủy cho biết, doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội từ thực tế Việt Nam mỗi năm phát sinh hàng triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp nhưng phần lớn chưa được tận dụng hiệu quả.
“Chúng tôi nhận ra lượng lớn phụ phẩm nông nghiệp đang bị bỏ đi một cách lãng phí, trong khi thế giới ngày càng siết chặt với sản phẩm nhựa truyền thống. Nếu tái tạo được nguồn nguyên liệu này, không chỉ giảm áp lực môi trường mà còn tạo thêm giá trị cho nông nghiệp”, ông Tùng chia sẻ.
Từ năm 2012, iGreen bắt đầu nghiên cứu hướng đi này và đến năm 2019 đưa nhà máy vào vận hành. Các loại nguyên liệu như bã mía, trấu hay bột tre sau khi được xử lý sẽ trở thành hạt nhựa sinh học để cung cấp cho doanh nghiệp sản xuất bao bì, khay, muỗng, dĩa dùng một lần.
Hiện phần lớn sản phẩm của doanh nghiệp được xuất khẩu sang Bắc Mỹ, trong đó Mỹ và Canada chiếm khoảng 60% thị phần. Theo ông Tùng, sản lượng của công ty đang tăng khoảng 40% mỗi năm, cho thấy nhu cầu của thị trường quốc tế đối với vật liệu xanh ngày càng lớn.
“Chúng tôi không trực tiếp làm thành phẩm mà cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp khác. Đây là cách để chuỗi giá trị lan tỏa nhanh hơn”, ông Tùng nói.
Theo bà Vũ Kim Hạnh – Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao, Việt Nam đang sở hữu nguồn phụ phẩm nông nghiệp rất lớn nhưng phần nhiều vẫn bị bỏ phí hoặc bán ở dạng thô với giá trị thấp.
“Không thể mãi cạnh tranh bằng cách bán nguyên liệu thô. Điều quan trọng là phải tái chế, đổi mới sáng tạo để nâng giá trị gia tăng cho nông sản Việt”, bà Hạnh nhận định.
Chưa dễ đi đường dài
Theo ông Trần Việt Anh – Chủ tịch Hiệp hội Tái chế chất thải Việt Nam, phụ phẩm nông nghiệp thực chất là một nguồn tài nguyên đặc biệt nhưng rất khó khai thác nếu thiếu chuỗi cung ứng ổn định và công nghệ chế biến sâu.
Ông Việt Anh cho rằng nhiều quốc gia đã đi trước Việt Nam trong việc phát triển ngành công nghiệp tái chế phụ phẩm. Tại Nhật Bản, rơm rạ được ép thành bao bì sinh học xuất khẩu; còn ở châu Âu, vỏ trái cây hay vỏ hạt được sử dụng để sản xuất mỹ phẩm và vật liệu sinh học.
“Xu hướng của thế giới hiện nay là giảm nhựa truyền thống, tăng vật liệu sinh học. Các tập đoàn lớn sẵn sàng trả thêm chi phí cho sản phẩm thân thiện môi trường. Đây là cơ hội rất lớn cho phụ phẩm nông nghiệp của Việt Nam”, ông Việt Anh nhận định.
Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp, thách thức lớn nhất hiện nay là chi phí sản xuất còn cao. Các sản phẩm sinh học hiện đắt hơn đáng kể so với sản phẩm truyền thống, trong khi người tiêu dùng vẫn ưu tiên yếu tố giá thành.
“Có những sản phẩm xanh giá cao gấp 2 – 2,5 lần sản phẩm thông thường. Người tiêu dùng ủng hộ về mặt tinh thần, nhưng khi quyết định mua thì vẫn cân nhắc nhiều về chi phí”, ông Đoàn Văn Tùng chia sẻ.
Ngoài giá thành, tiêu chuẩn và chứng nhận quốc tế cũng là áp lực lớn với doanh nghiệp xanh. Để được công nhận đạt tiêu chuẩn phân hủy sinh học, doanh nghiệp phải trải qua quy trình kiểm định kéo dài khoảng một năm với chi phí lên tới hàng tỷ đồng.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh thế giới ngày càng ưu tiên tiêu dùng xanh, phụ phẩm nông nghiệp có thể trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp sinh học của Việt Nam. Tuy nhiên, để “biến rác thành vàng”, cần thêm cơ chế hỗ trợ về vốn, công nghệ, chứng nhận sản phẩm xanh cũng như quy hoạch vùng nguyên liệu bài bản hơn.
